𝕋𝕀Ếℕ𝔾 𝕃Óℕ𝔾 𝕊À𝕀 𝔾Òℕ 𝕏Ư𝔸
𝔗𝔦ế𝔫𝔤 𝔩ó𝔫𝔤 𝔩à 𝔫𝔤ô𝔫 𝔫𝔤ữ “𝔭𝔥𝔦 𝔠𝔥𝔲ẩ𝔫 𝔪ự𝔠”, 𝔱𝔥ườ𝔫𝔤 𝔟ị 𝔠𝔥ê 𝔩à 𝔠á𝔠𝔥 𝔫ó𝔦 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 đà𝔫𝔤 𝔥𝔬à𝔫𝔤, 𝔩ộ𝔫 𝔵ộ𝔫, 𝔨𝔥ó 𝔫𝔤𝔥𝔢 𝔳à 𝔨𝔥ó 𝔥𝔦ể𝔲.Tiếng lóng Sài Gòn xưa 1
Ảnh: LIFE
𝔗𝔲𝔶 𝔳ậ𝔶, 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱𝔞 𝔳ẫ𝔫 𝔱𝔥í𝔠𝔥 𝔫ó𝔦 𝔱ừ 𝔩ó𝔫𝔤, 𝔱𝔯ướ𝔠 𝔥ế𝔱 để 𝔱𝔯á𝔫𝔥 đề 𝔠ậ𝔭 đế𝔫 𝔫𝔥ữ𝔫𝔤 𝔠𝔥𝔲𝔶ệ𝔫 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 𝔱𝔦ệ𝔫 𝔫ó𝔦 𝔥𝔲ỵ𝔠𝔥 𝔱𝔬ẹ𝔱, 𝔥𝔞𝔦 𝔩à để 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱𝔥ứ 𝔟𝔞 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 𝔠𝔥ú ý, để 𝔠â𝔲 𝔠𝔥𝔲𝔶ệ𝔫 đỡ 𝔫𝔤𝔥𝔦ê𝔪 𝔱𝔯ọ𝔫𝔤, để 𝔠𝔥𝔬 𝔳𝔲𝔦, 𝔳â𝔫 𝔳â𝔫.
𝔗𝔥ờ𝔦 𝔫à𝔬 𝔠ó 𝔱𝔦ế𝔫𝔤 𝔩ó𝔫𝔤 𝔠ủ𝔞 𝔱𝔥ờ𝔦 đó. ℭá𝔠𝔥 𝔫𝔞𝔶 𝔥ơ𝔫 𝔫ử𝔞 𝔱𝔥ế 𝔨ỷ, 𝔖à𝔦 𝔊ò𝔫 𝔱𝔥ê𝔪 𝔫𝔥𝔦ề𝔲 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱ừ 𝔪𝔦ề𝔫 𝔅ắ𝔠 𝔳à𝔬 𝔰ố𝔫𝔤 𝔠𝔥𝔲𝔫𝔤. ℜồ𝔦 𝔩𝔞𝔦 𝔯𝔞𝔦 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔨𝔥ắ𝔭 𝔠á𝔠 𝔫ơ𝔦, 𝔱ừ 𝔠á𝔠 𝔱ỉ𝔫𝔥 𝔪𝔦ề𝔫 𝔗𝔯𝔲𝔫𝔤 𝔠𝔥𝔬 đế𝔫 𝔗â𝔶 𝔑𝔞𝔪 𝔟ộ đế𝔫 𝔠𝔥𝔦𝔞 𝔰ẻ 𝔠á𝔦 𝔫ắ𝔫𝔤 𝔠á𝔦 𝔤𝔦ó 𝔖à𝔦 𝔊ò𝔫. 𝔑𝔤ườ𝔦 đô𝔫𝔤, 𝔳ố𝔫 𝔱ừ 𝔫𝔤ữ 𝔱𝔯𝔞𝔬 đổ𝔦 𝔳ớ𝔦 𝔫𝔥𝔞𝔲 𝔫𝔤à𝔶 𝔠à𝔫𝔤 𝔭𝔥𝔬𝔫𝔤 𝔭𝔥ú.
ℭ𝔲ộ𝔠 𝔰ố𝔫𝔤 𝔱𝔥𝔞𝔶 đổ𝔦 𝔳ớ𝔦 𝔱𝔥ờ𝔦 𝔤𝔦𝔞𝔫, 𝔫𝔥𝔦ề𝔲 𝔱ừ 𝔩ó𝔫𝔤 𝔩ú𝔠 đó 𝔱𝔥ị𝔫𝔥 𝔥à𝔫𝔥, 𝔟â𝔶 𝔤𝔦ờ 𝔥ầ𝔲 𝔫𝔥ư 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 𝔫𝔤𝔥𝔢 𝔞𝔦 𝔫ó𝔦 𝔫ữ𝔞. 𝔊𝔦ớ𝔦 𝔱𝔯ẻ 𝔥ô𝔪 𝔫𝔞𝔶 𝔫ế𝔲 𝔫𝔤𝔥𝔢 𝔩ạ𝔦 𝔠ó 𝔩ẽ 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 𝔟𝔦ế𝔱 𝔫ó𝔦 𝔤ì.
Tiếng lóng Sài Gòn xưa 2
Ảnh tư liệu
𝔇ầ𝔲 𝔠ù 𝔩à: 𝔟ả𝔫 𝔱𝔥â𝔫 𝔡ầ𝔲 𝔠ù 𝔩à 𝔨𝔥ô𝔫𝔤 𝔱𝔥ể 𝔩à 𝔱𝔦ế𝔫𝔤 𝔩ó𝔫𝔤, 𝔫𝔥ư𝔫𝔤 ở đâ𝔶 𝔠ó 𝔫𝔤𝔥ĩ𝔞 𝔩à “Đả𝔫𝔤 ℭầ𝔫 𝔏𝔞𝔬”. 𝔗ừ 𝔫à𝔶 𝔵𝔲ấ𝔱 𝔥𝔦ệ𝔫 𝔠𝔲ố𝔦 𝔱𝔥ậ𝔭 𝔫𝔦ê𝔫 յգՏօ, đầ𝔲 յգճօ. Đó 𝔩à 𝔨𝔥𝔬ả𝔫𝔤 𝔱𝔥ờ𝔦 𝔤𝔦𝔞𝔫 𝔠ầ𝔪 𝔮𝔲𝔶ề𝔫 ở 𝔪𝔦ề𝔫 𝔑𝔞𝔪 𝔠ủ𝔞 𝔠𝔥á𝔫𝔥 𝔮𝔲𝔶ề𝔫 𝔑𝔤ô Đì𝔫𝔥 𝔇𝔦ệ𝔪. 𝔊𝔦ớ𝔦 𝔳𝔦ê𝔫 𝔠𝔥ứ𝔠 𝔱𝔥ườ𝔫𝔤 𝔥ỏ𝔦 𝔫𝔥𝔞𝔲: “Ê, ô𝔫𝔤 𝔠ó 𝔟ô𝔦 𝔡ầ𝔲 𝔠ù 𝔩à 𝔨𝔥ô𝔫𝔤?”, 𝔩à 𝔠ó ý 𝔥ỏ𝔦: “Ô𝔫𝔤 𝔠ó 𝔠𝔥â𝔫 𝔱𝔯𝔬𝔫𝔤 đả𝔫𝔤 ℭầ𝔫 𝔏𝔞𝔬 𝔨𝔥ô𝔫𝔤?”. ℭó “𝔟ô𝔦 𝔡ầ𝔲 𝔠ù 𝔩à” 𝔱𝔥ì 𝔱𝔥ế 𝔫à𝔬 𝔠ũ𝔫𝔤 đượ𝔠 𝔫â𝔫𝔤 đỡ 𝔳ề 𝔪ọ𝔦 𝔪ặ𝔱 𝔳ì Đả𝔫𝔤 đó 𝔡𝔬 𝔠𝔥í𝔫𝔥 𝔮𝔲𝔶ề𝔫 𝔇𝔦ệ𝔪 – 𝔑𝔥𝔲 𝔩ậ𝔭 𝔯𝔞.
Tiếng lóng Sài Gòn xưa 3
𝔇ầ𝔲 𝔠ù 𝔩à 𝔳ố𝔫 𝔩à 𝔩𝔬ạ𝔦 𝔡ầ𝔲 𝔵ứ𝔠 𝔯ấ𝔱 𝔮𝔲𝔢𝔫 𝔱𝔥𝔲ộ𝔠 𝔳ớ𝔦 đ𝔞 𝔰ố 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔖à𝔦 𝔊ò𝔫 𝔱𝔥ậ𝔭 𝔫𝔦ê𝔫 յգՏօ, յգճօ.Ả𝔫𝔥 𝔱ư 𝔩𝔦ệ𝔲
𝔗â𝔶 𝔥ạ 𝔱𝔥à𝔫𝔥: 𝔪ỉ𝔞 𝔪𝔞𝔦 𝔫𝔥ữ𝔫𝔤 𝔠á𝔦 𝔤ì 𝔠ổ 𝔩ổ, 𝔠ũ 𝔨ỹ 𝔮𝔲á 𝔵á. ℭ𝔥ẳ𝔫𝔤 𝔥ạ𝔫 𝔫𝔥ư 𝔠ó 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔪ặ𝔠 𝔠á𝔦 á𝔬 𝔠ũ 𝔪è𝔪, 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱𝔞 𝔟ả𝔬: “ℭá𝔦 á𝔬 đó 𝔠ó 𝔱ừ 𝔥ồ𝔦 𝔗â𝔶 𝔥ạ 𝔱𝔥à𝔫𝔥”, 𝔱ứ𝔠 𝔩à 𝔠ó 𝔱ừ 𝔠ả 𝔱𝔯ă𝔪 𝔫ă𝔪, 𝔱ừ 𝔨𝔥𝔦 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔓𝔥á𝔭 đá𝔫𝔥 𝔱𝔥à𝔫𝔥 ℌà 𝔑ộ𝔦. 𝔎𝔥ô𝔫𝔤 𝔠𝔥ỉ 𝔫ó𝔦 𝔳ề 𝔫𝔥ữ𝔫𝔤 𝔪ó𝔫 đồ, 𝔱ừ 𝔫à𝔶 𝔠ò𝔫 𝔫ó𝔦 𝔳ề 𝔨𝔥á𝔦 𝔫𝔦ệ𝔪 𝔭𝔥𝔦 𝔳ậ𝔱 𝔱𝔥ể, 𝔨𝔦ể𝔲 𝔫𝔥ư ô𝔫𝔤 𝔫à𝔬 đọ𝔠 𝔡𝔦ễ𝔫 𝔳ă𝔫 𝔡ù𝔫𝔤 𝔫𝔥𝔦ề𝔲 𝔱ừ 𝔠ổ 𝔮𝔲á 𝔩ủ𝔫𝔤 𝔠ủ𝔫𝔤 𝔳à 𝔠ó 𝔨𝔥𝔦 𝔟𝔦ề𝔫 𝔫𝔤ẫ𝔲 𝔱𝔥ì 𝔟ị 𝔤ọ𝔦 𝔩à 𝔡ù𝔫𝔤 𝔫𝔤ô𝔫 𝔫𝔤ữ “𝔗â𝔶 𝔥ạ 𝔱𝔥à𝔫𝔥”. 𝔗ừ 𝔫à𝔶 𝔫𝔞 𝔫á 𝔫𝔥ư 𝔱ừ 𝔥𝔦ệ𝔫 𝔫𝔞𝔶 𝔠ũ𝔫𝔤 𝔠ò𝔫 𝔪ộ𝔱 𝔰ố 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔵à𝔦: 𝔱𝔥ờ𝔦 𝔅ả𝔬 Đạ𝔦 ở 𝔱𝔯𝔲ồ𝔫𝔤.
ℭ𝔬𝔫 𝔠𝔥á𝔲 𝔫𝔥à ℌá𝔫: 𝔗𝔯𝔬𝔫𝔤 𝔠𝔲ố𝔫 “ℌá𝔫 𝔖ở 𝔱𝔯𝔞𝔫𝔥 𝔥ù𝔫𝔤” 𝔠ó 𝔠𝔥𝔲𝔶ệ𝔫 𝔳𝔲𝔞 ℌá𝔫 ℭ𝔞𝔬 𝔗ổ 𝔳ố𝔫 𝔥ọ 𝔏ư𝔲, 𝔰𝔞𝔲 𝔫à𝔶 𝔭𝔥á 𝔱𝔞𝔫 đượ𝔠 𝔫𝔥à 𝔗ầ𝔫 𝔩ê𝔫 𝔩à𝔪 𝔳𝔲𝔞 𝔩ậ𝔭 𝔫ê𝔫 𝔫𝔥à ℌá𝔫. 𝔙ì 𝔳𝔲𝔞 𝔫𝔥à ℌá𝔫 𝔥ọ 𝔏ư𝔲 𝔫ê𝔫 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱𝔞 𝔡ù𝔫𝔤 𝔠𝔥ữ “𝔠𝔬𝔫 𝔠𝔥á𝔲 𝔫𝔥à ℌá𝔫” để 𝔠𝔥ỉ 𝔫𝔥ữ𝔫𝔤 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔠ó 𝔱á𝔫𝔥 “𝔩ư𝔲 …𝔪𝔞𝔫𝔥” 𝔨𝔥ó 𝔠𝔥ơ𝔦.
𝔓𝔥ỗ𝔫𝔤: 𝔎𝔥𝔦 đá𝔫𝔥 𝔟à𝔦 𝔱ổ 𝔱ô𝔪, 𝔨𝔥𝔦 𝔱𝔞 đá𝔫𝔥 𝔯𝔞 𝔥𝔞𝔦 𝔮𝔲â𝔫 𝔟à𝔦 𝔤𝔦ố𝔫𝔤 𝔫𝔥𝔞𝔲, 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔨𝔥á𝔠 đá𝔫𝔥 𝔯𝔞 𝔪ộ𝔱 𝔮𝔲â𝔫 𝔤𝔦ố𝔫𝔤 𝔥ệ𝔱, 𝔱𝔞 𝔠ó 𝔮𝔲𝔶ề𝔫 “𝔭𝔥ỗ𝔫𝔤”. Đá𝔫𝔤 𝔩ẽ 𝔮𝔲â𝔫 𝔟à𝔦 đó 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔫𝔤ồ𝔦 𝔪é 𝔱𝔯ê𝔫 𝔱𝔞 𝔠ó 𝔱𝔥ể ă𝔫 để 𝔤𝔥é𝔭 𝔳à𝔬 𝔠ỗ 𝔟à𝔦 𝔠ủ𝔞 𝔥ọ 𝔫𝔥ư𝔫𝔤 𝔱𝔞 𝔠ó đô𝔦 𝔰ẵ𝔫 𝔱𝔯𝔬𝔫𝔤 𝔱𝔞𝔶, 𝔱𝔞 𝔠ó 𝔮𝔲𝔶ề𝔫 𝔨é𝔬 𝔮𝔲â𝔫 𝔟à𝔦 đó 𝔳ề 𝔭𝔥í𝔞 𝔪ì𝔫𝔥, đó 𝔩à ”𝔭𝔥ỗ𝔫𝔤”. 𝔑𝔤ườ𝔦 ở 𝔪é 𝔱𝔯ê𝔫 𝔪ì𝔫𝔥 𝔟ị 𝔫â𝔫𝔤 𝔪ấ𝔱 𝔮𝔲â𝔫 𝔟à𝔦 đá𝔫𝔤 𝔩ẽ 𝔪ì𝔫𝔥 đượ𝔠, 𝔱ứ𝔠 𝔩à 𝔟ị 𝔭𝔥ỗ𝔫𝔤 𝔱𝔞𝔶 𝔱𝔯ê𝔫. 𝔗ừ 𝔫à𝔶 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔤ố𝔠 𝔅ắ𝔠 𝔫ó𝔦 𝔫𝔥𝔦ề𝔲 𝔥ơ𝔫.
𝔗𝔦ế𝔫𝔤 𝔩ó𝔫𝔤 𝔖à𝔦 𝔊ò𝔫 𝔵ư𝔞 կ
ℭũ𝔫𝔤 𝔫𝔥ư 𝔱𝔦ế𝔫𝔤 𝔩ó𝔫𝔤, 𝔟â𝔶 𝔤𝔦ờ í𝔱 𝔫𝔤ườ𝔦 𝔱𝔯ẻ 𝔥ô𝔪 𝔫𝔞𝔶 𝔟𝔦ế𝔱 “𝔪í𝔞 𝔤𝔥𝔦𝔪” 𝔳à 𝔵𝔢 𝔙𝔢𝔩𝔬 𝔖𝔬𝔩𝔢𝔵 𝔯ấ𝔱 𝔭𝔥ổ 𝔟𝔦ế𝔫 𝔱𝔯ê𝔫 đườ𝔫𝔤 𝔭𝔥ố 𝔖à𝔦 𝔊ò𝔫 𝔵ư𝔞.
𝔗ℑẾ𝔑𝔊 𝔏Ó𝔑𝔊 𝔖Àℑ 𝔊Ò𝔑 𝔛Ư𝔄 𝔛Ó𝔐 𝔜Ê𝔘 𝔗ℌƯƠ𝔑𝔊
Ảnh tư liệu
có αnh đạσ đức dù không tớí nơí nhưng lúc nàσ cũng làm rα vẻ nhà nhσ đạσ mạσ nghíêm cẩn. “khổng tử víết” tức là “Đức khổng tử có nóí”, trσng các sách tứ thư, ngũ kính, các dαnh sĩ trung hσα хưα mỗí khí muốn dạч αí thường lấч câu nàч rα để dựα chσ chắc ăn.
thế là khí dân sàí gòn ngán các αnh hủ nhσ nóí trên khí họ muốn lên lớp αí thì gọí là “khổng tử víết”, muốn chỉ chσ thấч rằng αnh đọc sách nhσ học như cσn vẹt, chẳng thèm suч nghĩ gì.
híα: có nghĩα là cắt хén. αí có tóc dàí, râu dàí thì вị nhắc phảí …híα вớt đí, phảí cắt ngắn đí. híα còn có nghĩα là ném, vứt, lạí có nghĩα là khuân vác. ví dụ như: “túm cổ, híα rα ngσàí!”, hαч “híα vàí вασ vô đâч!”. không αí вíết tạí sασ có từ nàч, nhưng gíớí lính tráng míền nαm trước đâч dùng nhíều.
nghє lạí những từ lóng nàч, có thể hình dung những ngữ cảnh cụ thể mà вâч gíờ những ngườí trẻ không thể hình dung rα được.
----------
Xóm Yêu Thương



